Trích dẫn một án lệ cho đúng cần đủ năm phần: số hiệu và tên án lệ đúng như bản công bố, đoạn giải pháp pháp lý chép nguyên văn, vị trí đoạn nội dung án lệ trong bản án gốc nếu cần, phần diễn giải tách riêng, và ghi chú nguồn cùng ngày kiểm.
Trích sai một con số hay bỏ một chữ "và" trong giải pháp có thể làm hỏng cả một lập luận tốt. Bài này đi vào chi tiết cách ghi, dùng ví dụ giả định với số hiệu để trống, vì mục đích là cách trình bày chứ không phải nội dung một án lệ cụ thể nào.
Án lệ được công bố với những phần nào
Mỗi án lệ khi công bố được trình bày theo một khuôn cố định. Phần đầu có số hiệu và tên án lệ, cho biết án lệ được Hội đồng Thẩm phán thông qua ngày nào và được công bố theo quyết định nào. Tiếp theo là nguồn án lệ, tức bản án hoặc quyết định gốc được chọn, và vị trí nội dung án lệ trong bản án đó, thường chỉ ra đoạn nào trong phần nhận định.
Phần trung tâm là khái quát nội dung của án lệ, gồm tình huống án lệ và giải pháp pháp lý. Kèm theo là quy định pháp luật liên quan đến án lệ, các từ khoá, rồi toàn văn bản án hoặc quyết định gốc, trong đó đoạn nội dung án lệ thường được đánh dấu.
Biết khuôn này giúp bạn trích đúng chỗ: số hiệu và tên lấy ở đầu, giải pháp lấy ở phần khái quát, vị trí lấy ở mục chỉ dẫn, còn những chi tiết sự việc khác của vụ gốc chỉ dùng khi thật cần để giải thích.
Năm phần của một trích dẫn đầy đủ
Ví dụ giả định, số hiệu và nội dung để trống vì chỉ minh hoạ cách ghi:
| Phần | Cách ghi | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|
| Số hiệu | Ghi đúng kiểu "Án lệ số …/…/AL" như bản công bố | Nhầm năm, nhầm số, thiếu ký hiệu |
| Tên án lệ | Chép đúng tên công bố, thường bắt đầu bằng "Về…" | Tự đặt tên theo cách hiểu |
| Đoạn giải pháp pháp lý | Chép nguyên văn, đặt trong ngoặc kép hoặc in nghiêng | Tóm tắt, làm rơi điều kiện |
| Vị trí trong bản án gốc | Khi cần, ghi đoạn, phần nhận định nào của bản án nguồn | Không ghi, người đọc phải tự tìm |
| Nguồn và ngày kiểm | Ghi đã đối chiếu trên trang án lệ chính thức, ngày nào | Không ghi, không chứng minh được đã kiểm |
Trong văn bản gửi toà, số hiệu và tên xuất hiện ngay lần đầu nhắc tới; các lần sau có thể chỉ ghi số hiệu. Đoạn giải pháp chép một lần, ở khối viện dẫn chính.
Ví dụ giả định về cách ghi trong văn bản: "Án lệ số …/…/AL về … (sau đây gọi là Án lệ số …) có giải pháp pháp lý: “…” (chép nguyên văn). Nội dung án lệ nằm ở đoạn … phần nhận định của bản án nguồn. Đã đối chiếu trên trang án lệ của Toà án nhân dân tối cao ngày …". Bốn câu, đủ năm phần, người đọc không phải tự đi tìm thứ gì.
Chép nguyên văn hay tóm tắt
Quy tắc an toàn: đoạn giải pháp pháp lý luôn chép nguyên văn. Đây là phần có giá trị áp dụng; mọi chữ trong đó đều có thể quan trọng. Tóm tắt giải pháp bằng lời của mình là mở cửa cho lỗi thu hẹp hoặc nới rộng phạm vi, và cho bên kia cơ hội nói bạn bóp méo án lệ.
Tình huống án lệ thì có thể tóm tắt, vì nó chỉ là bối cảnh để so. Nhưng khi tóm, giữ đủ các sự kiện mà giải pháp dựa vào; đừng bỏ đi một sự kiện chỉ vì vụ của bạn thiếu nó. Làm vậy là tự lừa mình, và người đọc kỹ sẽ thấy.
Nếu muốn diễn giải giải pháp cho dễ hiểu, viết một câu riêng, bắt đầu bằng "nghĩa là" hoặc "hiểu một cách đơn giản". Người đọc phân biệt được đâu là lời án lệ, đâu là lời bạn, và có thể tự kiểm cách hiểu đó.
Khi chép nguyên văn, giữ cả dấu câu, cách viết hoa, cách gọi tên các bên như trong bản công bố (thường là "nguyên đơn", "bị đơn" hoặc các vai như "bên chuyển nhượng", "bên nhận chuyển nhượng"). Không thay các vai đó bằng tên các bên trong vụ của bạn ngay trong ngoặc kép; việc gắn vai với người cụ thể thuộc phần phân tích tương tự, viết ở đoạn sau. Nếu buộc phải lược bớt một phần đoạn giải pháp vì quá dài, đánh dấu chỗ lược bằng ba chấm trong ngoặc vuông và chắc chắn phần lược không chứa điều kiện nào.
Kiểm trích dẫn trước khi đưa vào văn bản
Làm một lần cho mỗi án lệ, đừng bỏ bước nào:
- Mở trang án lệ của Toà án nhân dân tối cao, tìm án lệ theo số hiệu hoặc từ khoá.
- So số hiệu, tên với những gì đã ghi trong bản nháp, từng ký tự.
- Chép đoạn giải pháp từ bản công bố vào văn bản, không chép từ nguồn trung gian.
- Đọc lại đoạn đã chép đối chiếu với bản công bố một lần nữa, chú ý dấu câu và các chữ điều kiện.
- Kiểm có thông báo thay thế, bãi bỏ án lệ không.
- Ghi chú ngày kiểm, nguồn kiểm vào bản nháp hoặc góc bản in nộp kèm.
Sáu bước mất vài phút cho mỗi án lệ. Nếu không mở được nguồn chính thức vào lúc đó, hãy đánh dấu trích dẫn là "chưa kiểm" và quay lại trước khi nộp, thay vì nộp với hy vọng không ai để ý.
Nguồn trung gian như sách tổng hợp án lệ, bài viết bình luận có ích để hiểu án lệ, nhưng không dùng để chép. Sách in có thể ra trước khi án lệ bị thay thế; bài bình luận có thể trích một phần. Chỉ bản công bố chính thức mới là căn cứ để trích, mọi nguồn khác chỉ là đường dẫn tới nó. Nếu trong lúc kiểm bạn thấy bản công bố khác với bản trung gian đã đọc, hãy tin bản công bố và đọc lại phần phân tích của mình theo nội dung đúng.
Trích dẫn trong từng loại văn bản
Đơn khởi kiện. Thường chỉ cần số hiệu, tên và một câu nêu vấn đề mà án lệ hỗ trợ. Phần chép giải pháp và phân tích để ở văn bản trình bày sau, giữ đơn gọn.
Bản tự khai, văn bản ý kiến. Đầy đủ năm phần, theo khối viện dẫn: vấn đề, án lệ, tương tự, đề nghị.
Bài phát biểu tranh luận. Khi nói, chỉ cần gọi số hiệu, tên ngắn và nói ý chính của giải pháp; dẫn chiếu văn bản đã nộp cho phần nguyên văn.
Đơn kháng cáo, văn bản bổ sung. Ghi số hiệu, tên và nêu rõ toà cấp dưới đã áp dụng hay không áp dụng, đã nêu lý do hay không. Cách viết lý do kháng cáo thuộc mảng riêng.
Thư từ, tin nhắn với bên kia. Nếu cần nhắc án lệ trong trao đổi thương lượng, ghi số hiệu và tên để họ tự tra; tránh tóm tắt giải pháp theo hướng có lợi cho mình, dễ gây tranh cãi về sau.
Trích dẫn nghị quyết hướng dẫn và bản án thường
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán là văn bản quy phạm pháp luật, nên trích như mọi văn bản pháp luật khác: số, ký hiệu, ngày ban hành, tên đầy đủ, điều, khoản cụ thể. Điều quan trọng là kiểm nghị quyết còn hiệu lực không, có bị thay thế hay sửa đổi bởi văn bản mới không, đặc biệt khi luật được hướng dẫn đã sửa đổi. Tra trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật chính thức, không dựa vào bản đăng lại.
Khi trong cùng văn bản có cả nghị quyết và án lệ, nêu nghị quyết trước như căn cứ pháp lý, án lệ sau như hướng áp dụng cho tình huống cụ thể. Trật tự này phản ánh đúng giá trị của từng loại nguồn và giúp người đọc theo dõi lập luận từ chung tới riêng.
Bản án thường đã công bố trích theo số bản án, ngày, tên toà ra bản án, và vị trí đoạn trích trong phần nhận định. Luôn ghi rõ đó là bản án tham khảo, không phải án lệ, để người đọc không hiểu nhầm giá trị.
Giải đáp nghiệp vụ, công văn hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao không phải văn bản quy phạm pháp luật cũng không phải án lệ. Nếu cần nhắc, ghi số, ngày, và trình bày như một tài liệu tham khảo về cách hiểu, đồng thời kiểm xem nội dung có còn phù hợp với luật hiện hành không.
Quản lý trích dẫn khi vụ kéo dài
Một vụ kiện có thể kéo dài nhiều tháng, qua nhiều văn bản. Giữ một tờ danh mục riêng các án lệ, nghị quyết, bản án đã trích: số hiệu, tên, ngày kiểm gần nhất, văn bản nào đã dùng. Khi soạn văn bản mới, chỉ cần lấy từ danh mục, không gõ lại từ trí nhớ.
Trước mỗi mốc quan trọng như phiên hoà giải, phiên toà, hạn kháng cáo, kiểm lại tình trạng của từng mục trong danh mục. Án lệ có thể bị thay thế giữa chừng, nghị quyết có thể được ban hành mới. Một trích dẫn đúng lúc nộp đơn khởi kiện có thể không còn đúng lúc xét xử.
Danh mục này cũng hữu ích khi bạn nhờ người khác hỗ trợ: người đọc thấy ngay bạn đã dựa vào những gì, kiểm từ bao giờ, và tập trung vào việc đánh giá thay vì đi tìm lại nguồn.
Giữ kèm danh mục một thư mục bản in hoặc bản lưu của từng án lệ, nghị quyết, bản án đã trích, đúng như bản bạn đã đối chiếu. Nếu sau này có tranh cãi về nội dung trích, bạn có ngay bản đã dùng để so, không phụ thuộc vào việc trang nguồn có thay đổi hay không.
Câu hỏi thường gặp
Số hiệu án lệ được ghi theo cấu trúc nào?
Án lệ được đánh số theo thứ tự kèm năm và ký hiệu riêng cho án lệ, dạng "Án lệ số …/…/AL". Khi trích, chép nguyên dạng từ bản công bố trên trang án lệ chính thức, không tự viết theo trí nhớ.
Có bắt buộc ghi tên án lệ không, hay chỉ cần số hiệu?
Không có quy định bắt buộc về hình thức trích của đương sự, nhưng ghi cả số hiệu và tên giúp người đọc nhận ra ngay án lệ đang nói tới, giảm nhầm lẫn khi gõ sai số. Lần đầu nhắc nên ghi cả hai.
Có cần trích cả phần tình huống án lệ không?
Nên tóm tình huống án lệ để người đọc thấy chỗ so sánh, và giữ đủ các sự kiện mà giải pháp dựa vào. Phần giải pháp pháp lý thì chép nguyên văn. Không cần chép toàn văn bản án gốc trong văn bản; nếu muốn, nộp kèm bản in.
Trích án lệ từ một bài viết trên mạng có được không?
Bài viết có thể giúp bạn biết có án lệ đó, nhưng trích dẫn phải lấy từ bản công bố chính thức. Bài viết có thể tóm sai, chép thiếu, hoặc nói về án lệ đã bị thay thế mà chưa cập nhật.
Ghi ngày kiểm án lệ có cần thiết không?
Không bắt buộc, nhưng rất hữu ích. Nó cho thấy bạn đã đối chiếu nguồn chính thức và vào lúc nào. Nếu sau đó án lệ bị thay thế, bạn và người đọc đều biết trích dẫn được làm trước thời điểm đó.
Có nên in đậm hay tô màu đoạn giải pháp trong văn bản không?
In nghiêng hoặc đặt trong ngoặc kép là đủ để phân biệt lời án lệ với lời của bạn. Tô màu, in đậm nhiều chỗ làm văn bản khó đọc. Trên bản in án lệ nộp kèm thì có thể đánh dấu đoạn giải pháp cho dễ tìm.