Khi đưa án lệ vào bản tự khai hay văn bản ý kiến, hãy đặt nó ngay sau phần trình bày sự việc của vấn đề mà án lệ trả lời, viết thành một khối gồm bốn phần: vấn đề cần toà giải quyết, án lệ và giải pháp pháp lý, các sự kiện tương tự kèm chứng cứ, đề nghị cụ thể. Thường chỉ cần hai đến bốn đoạn ngắn.
Đây là kênh viện dẫn hiệu quả nhất với đương sự tự theo vụ, vì thẩm phán đọc văn bản trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi đang xác định vấn đề cần giải quyết. Bố cục chung của bản tự khai, văn bản ý kiến (của bị đơn, của nguyên đơn) là chuyện riêng; bài này chỉ bàn phần có án lệ.
Văn bản nào, giai đoạn nào thì nên có án lệ
Trong vụ án dân sự, sau khi thụ lý toà thông báo cho bị đơn và người liên quan, đề nghị họ có văn bản ghi ý kiến; các bên cũng thường được yêu cầu làm bản tự khai, cung cấp tài liệu. Toàn bộ giai đoạn chuẩn bị xét xử là lúc các văn bản này được nộp, bổ sung. Bất kỳ văn bản trình bày nào bạn nộp trong giai đoạn đó đều có thể chứa phần viện dẫn án lệ.
Nguyên đơn có thể đưa án lệ ngay từ đơn khởi kiện, ở phần lý do, căn cứ khởi kiện. Tuy nhiên đơn khởi kiện cần gọn; nhiều người chọn nêu tên án lệ một câu trong đơn, rồi viết phần phân tích đầy đủ trong một văn bản trình bày ý kiến nộp sau khi có thông báo thụ lý. Bị đơn thường đưa án lệ vào văn bản ý kiến phản hồi yêu cầu khởi kiện.
Nếu đã nộp văn bản mà sau đó mới tìm được án lệ, cứ nộp một văn bản bổ sung ý kiến, ghi rõ bổ sung cho văn bản ngày nào. Đừng đợi tới phiên toà mới nói lần đầu: lúc đó hội đồng xét xử có ít thời gian đối chiếu, bên kia lại có cớ nói bị bất ngờ.
Bốn phần của một khối viện dẫn
Viết theo thứ tự này, mỗi phần một đoạn, đánh dấu bằng câu mở rõ ràng:
- Vấn đề. Một câu nêu câu hỏi pháp lý cần toà giải quyết, ví dụ: "Vấn đề cần xác định là khoản tiền hai trăm triệu đồng ngày… là tiền đặt cọc hay tiền thanh toán trước."
- Án lệ. Ghi số hiệu, tên án lệ đúng như bản công bố, chép nguyên đoạn giải pháp pháp lý hoặc tóm tắt trung thành, nói rõ là chép hay tóm.
- Tương tự. Liệt kê từng sự kiện then chốt của tình huống án lệ và sự kiện tương ứng trong vụ của bạn, mỗi sự kiện dẫn chiếu chứng cứ (bút lục, tên tài liệu, ngày). Nếu có điểm khác, nói luôn và giải thích vì sao không quyết định.
- Đề nghị. Viết rõ bạn đề nghị toà xác định, chấp nhận hay không chấp nhận điều gì trên cơ sở án lệ, gắn với yêu cầu khởi kiện hoặc phản tố của bạn.
Khối này nên đứng ngay sau phần kể sự việc liên quan, không dồn xuống cuối văn bản. Người đọc vừa nắm sự việc xong là thấy ngay căn cứ.
Ví dụ giả định: một khối viện dẫn hoàn chỉnh
Ví dụ giả định (số hiệu, tên án lệ để trống vì chỉ minh hoạ): "Về khoản tiền ba trăm triệu đồng ông C nhận ngày 10 tháng 3, vấn đề cần xác định là khoản tiền này có phải tiền đặt cọc hay không. Án lệ số …/…/AL về … có giải pháp pháp lý: [chép nguyên văn đoạn giải pháp]." Tới câu tiếp theo, nhiều người chuyển sang kể bằng ngôi thứ nhất, giọng tâm sự. Trong văn bản gửi toà, đương sự nên tự gọi mình theo vai: "nguyên đơn", "bị đơn", hoặc họ tên; viết theo vai giúp văn bản khách quan, dễ trích vào bản án.
Viết tiếp đúng giọng: "Vụ việc giữa nguyên đơn và bị đơn có các sự kiện tương tự tình huống án lệ: thứ nhất, giấy nhận tiền ghi rõ mục đích bảo đảm việc ký hợp đồng chuyển nhượng (tài liệu số 3 nộp kèm đơn khởi kiện); thứ hai, hai bên thoả thuận bên nào từ chối ký thì chịu hậu quả (cùng tài liệu); thứ ba, bị đơn đã từ chối ký vào ngày hẹn (tin nhắn ngày…, tài liệu số 5). Khác với vụ án gốc, số tiền trong vụ này nhỏ hơn và hai bên không có quan hệ họ hàng, nhưng các điểm khác này không liên quan tới giải pháp pháp lý."
Và đề nghị: "Trên cơ sở đó, nguyên đơn đề nghị Toà xác định khoản tiền ba trăm triệu đồng là tiền đặt cọc và giải quyết hậu quả việc từ chối giao kết hợp đồng theo quy định về đặt cọc." Ba đoạn, mỗi đoạn có việc của nó, không có câu nào chỉ để than thở hay bày tỏ cảm xúc.
Những lỗi làm khối viện dẫn mất tác dụng
Chỉ ghi tên án lệ. Một dòng "căn cứ Án lệ số…" mà không có giải pháp, không có sự kiện tương tự thì thẩm phán phải tự làm hết phần việc, và rất có thể kết luận khác bạn.
Chép cả án lệ. Dán nguyên văn vài trang bản án gốc vào văn bản khiến phần lập luận chìm. Chỉ chép đoạn giải pháp; phần còn lại, nếu muốn, nộp kèm thành bản in riêng.
Không dẫn chứng cứ. Viết "vụ của nguyên đơn giống hệt án lệ" mà không chỉ ra tài liệu nào chứng minh từng sự kiện là cách viện dẫn yếu nhất.
Lẫn cảm xúc vào lập luận. Câu như "bị đơn rõ ràng là gian dối, toà phải áp dụng án lệ" vừa không chứng minh được gì, vừa làm phần lập luận nghe thiếu khách quan.
Gắn án lệ vào yêu cầu không liên quan. Án lệ về đặt cọc không hỗ trợ được yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần. Mỗi án lệ chỉ đi với đúng vấn đề nó trả lời.
Bị đơn dùng án lệ để phản bác yêu cầu khởi kiện
Viện dẫn án lệ không chỉ là việc của bên đi kiện. Bị đơn có thể dùng án lệ để chỉ ra rằng, với tình huống tương tự, toà đã được hướng dẫn giải quyết theo hướng không chấp nhận một yêu cầu như của nguyên đơn. Khối viện dẫn vẫn gồm bốn phần, chỉ khác ở phần đề nghị: thay vì đề nghị chấp nhận, bị đơn đề nghị toà không chấp nhận yêu cầu, hoặc chỉ chấp nhận một phần.
Ví dụ giả định: nguyên đơn đòi huỷ hợp đồng chuyển nhượng vì chưa công chứng. Bị đơn nêu một án lệ có giải pháp công nhận hợp đồng khi bên nhận đã thực hiện phần lớn nghĩa vụ, rồi chỉ ra các sự kiện: đã trả gần hết tiền, đã nhận đất, đã sử dụng ổn định, có chứng cứ cho từng điểm. Đề nghị là toà công nhận hợp đồng thay vì tuyên vô hiệu. Với bị đơn, án lệ trở thành nền cho một yêu cầu phản tố hoặc ít nhất cho phần ý kiến phản đối.
Bị đơn cũng nên đọc lại đơn khởi kiện xem nguyên đơn đã nêu án lệ nào chưa. Nếu có, văn bản ý kiến cần một khối riêng trả lời án lệ đó, chỉ ra chỗ không tương tự. Cách phản biện án lệ của bên kia là chủ đề riêng; trong văn bản ý kiến, điều quan trọng là không bỏ trống phần này, vì im lặng dễ bị hiểu là không có gì để nói.
Viết cho người đọc không chuyên vẫn hiểu
Văn bản của bạn không chỉ thẩm phán đọc. Hội thẩm nhân dân, bên kia, đôi khi cả người thân của các bên đều đọc. Một khối viện dẫn đầy thuật ngữ, câu dài nhiều mệnh đề, khiến chính người cần bị thuyết phục bỏ qua. Viết câu ngắn, mỗi câu một ý, thuật ngữ nào dùng thì giải thích ngay bằng vài chữ.
Thay vì "các tình tiết khách quan của vụ án có sự tương đồng về bản chất pháp lý với tình huống án lệ", hãy viết "vụ này có ba điểm giống tình huống án lệ: …". Thay vì "đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng án lệ để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện", hãy viết điều cụ thể mà bạn muốn toà tuyên. Một câu đề nghị cụ thể có giá trị hơn ba câu đề nghị chung chung.
Đọc lại khối viện dẫn sau khi viết, tưởng tượng mình là người lần đầu biết vụ việc. Nếu có câu phải đọc hai lần mới hiểu, viết lại. Nếu có câu xoá đi mà nghĩa không đổi, xoá.
Nộp kèm gì cho toà dễ đối chiếu
Văn bản có viện dẫn án lệ nên đi kèm vài thứ giúp người đọc kiểm nhanh:
| Nộp kèm | Vì sao | Lưu ý |
|---|---|---|
| Bản in án lệ, đánh dấu đoạn giải pháp | Thẩm phán đối chiếu không cần tự tra | In từ trang án lệ chính thức của Toà án nhân dân tối cao |
| Bảng so sự kiện (hai cột) | Thấy ngay chỗ tương tự, chỗ khác | Một trang là đủ, không trình bày cầu kỳ |
| Danh mục chứng cứ dẫn chiếu | Mỗi sự kiện tìm được tài liệu | Đánh số khớp với số trong văn bản |
| Bản sao gửi các đương sự khác | Theo nguyên tắc tài liệu nộp toà phải được thông báo cho bên kia | Hỏi thư ký toà cách giao bản sao cho các bên |
Không cần đóng bìa, trình bày đẹp; quan trọng là đánh số rõ ràng để khi tranh luận hoặc khi toà hỏi lại, bạn và thẩm phán cùng nhìn vào một chỗ.
Khi văn bản đã nộp có viện dẫn sai
Sau khi nộp, có thể bạn phát hiện án lệ đã viện dẫn không thật sự tương tự, đã bị thay thế, hoặc đọc sai giải pháp. Đừng im lặng chờ toà hay bên kia phát hiện. Hãy nộp một văn bản bổ sung, nói rõ rút phần viện dẫn án lệ ở văn bản ngày nào và nêu căn cứ thay thế (quy định pháp luật trực tiếp, hoặc án lệ khác sát hơn).
Việc tự điều chỉnh không làm bạn mất điểm; ngược lại, nó cho thấy bạn nghiêm túc với căn cứ. Cái làm mất điểm là để bên kia chỉ ra tại phiên toà rằng án lệ bạn dựa vào đã bị bãi bỏ từ lâu.
Nếu băn khoăn có nên rút hay giữ một viện dẫn, hoặc không chắc cách viết đề nghị cho khớp yêu cầu, bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn, kèm bản văn bản đã nộp và án lệ gốc. Người làm nghề nhìn văn bản cụ thể sẽ chỉ ra được câu nào nên sửa, câu nào nên bỏ.
Câu hỏi thường gặp
Bản tự khai có giới hạn số trang hay hình thức bắt buộc không?
Pháp luật tố tụng không đặt giới hạn số trang cho bản tự khai hay văn bản ý kiến; toà có thể dùng biểu mẫu cho một số văn bản. Phần viện dẫn án lệ nên gọn, vài đoạn là đủ. Hỏi thư ký toà nếu không rõ văn bản của mình có theo mẫu nào không.
Đương sự có được xưng hô thế nào trong văn bản có viện dẫn án lệ?
Văn bản gửi toà nên viết theo vai tố tụng như nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hoặc ghi họ tên. Cách viết này giúp văn bản khách quan, dễ đối chiếu và dễ trích lại trong biên bản, bản án.
Có cần ghi cả số hiệu lẫn tên án lệ không?
Nên ghi cả hai, đúng như bản công bố, để tránh nhầm lẫn giữa các án lệ có nội dung gần nhau. Số hiệu phải được kiểm từ nguồn chính thức; chép sai số hiệu là lỗi dễ bị bắt bẻ và làm giảm tin vào toàn văn bản.
Nộp văn bản có án lệ rồi thì tại phiên toà có cần nói lại không?
Nên nhắc lại ngắn gọn khi tranh luận, vì phiên toà là nơi hội đồng xét xử nghe các bên trực tiếp và kết quả tranh luận là cơ sở để ra bản án. Chỉ cần nêu ý chính và dẫn chiếu văn bản đã nộp, không đọc lại toàn bộ.
Bên kia có quyền được xem phần viện dẫn án lệ của mình không?
Có. Tài liệu, ý kiến các bên nộp cho toà nói chung phải được thông báo, giao cho các đương sự khác theo thủ tục tố tụng để họ có điều kiện trình bày ý kiến. Vì vậy hãy viết sao cho bên kia đọc cũng khó bắt bẻ.
Viện dẫn án lệ trong đơn khởi kiện có làm đơn bị trả lại không?
Việc có viện dẫn án lệ không phải lý do trả lại đơn. Đơn bị trả lại vì những lý do khác như thiếu nội dung bắt buộc, sai thẩm quyền hay chưa đủ điều kiện khởi kiện. Tuy vậy, nên giữ đơn gọn và để phần phân tích án lệ ở văn bản trình bày riêng.