Khi xử điều khoản phạt vi phạm, toà thường đi theo ba câu hỏi: hợp đồng thuộc luật nào (Luật Thương mại hay Bộ luật Dân sự), mức phạt có vượt giới hạn luật cho phép không, và bên đòi có đủ điều kiện để vừa phạt vừa đòi bồi thường hay không. Với hợp đồng thương mại, mức phạt tổng cộng không được vượt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm theo Luật Thương mại 2005, trừ trường hợp luật có quy định riêng; phần thoả thuận vượt mức này thường bị toà không chấp nhận.
Bài này đọc điều khoản phạt qua cách toà xử chứ không qua lý thuyết hợp đồng: những điểm các bản án hay sửa, hướng dẫn thống nhất của Hội đồng Thẩm phán về phạt vi phạm, và bài học cho người soạn hợp đồng mẫu. Đây là thực tiễn xét xử chung; bạn kiểm thêm án lệ cùng chủ đề trên trang án lệ của Toà án nhân dân tối cao trước khi dùng cho vụ cụ thể.
Câu hỏi đầu tiên: hợp đồng chịu luật nào
Bộ luật Dân sự 2015 để các bên tự thoả thuận mức phạt vi phạm, trừ khi luật liên quan có quy định khác. Luật Thương mại 2005 thì đặt trần cho hoạt động thương mại. Vì vậy câu hỏi phân loại quan hệ quyết định gần như toàn bộ kết quả của điều khoản phạt. Hai thương nhân mua bán hàng hoá vì mục đích sinh lợi là quan hệ thương mại; một cá nhân mua căn hộ để ở thì không.
Trong thực tiễn, nhiều vụ tranh cãi ngay từ bước này. Ví dụ giả định: một hộ kinh doanh mua thiết bị của công ty để dùng cho cửa hàng của mình. Bên bán cho rằng đây là giao dịch thương mại, bên mua cho rằng mình mua như người tiêu dùng. Toà sẽ nhìn vào mục đích giao dịch, tư cách các bên và nội dung hợp đồng để quyết định áp luật nào, rồi mới xét mức phạt.
Hợp đồng còn có thể chịu luật chuyên ngành, như hợp đồng xây dựng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tín dụng, mỗi luật có quy định riêng về phạt hoặc chế tài. Khi soạn hợp đồng mẫu, việc ghi rõ luật áp dụng không làm thay đổi bản chất quan hệ, nhưng giúp toà và các bên đọc ý định của nhau nhanh hơn.
Những điểm các bản án hay sửa trong điều khoản phạt
Mức phạt vượt trần trong hợp đồng thương mại. Hợp đồng ghi phạt 10%, 20% hay "phạt gấp đôi giá trị hợp đồng" giữa hai thương nhân thì phần vượt trần thường không được chấp nhận. Toà không tuyên cả điều khoản vô hiệu mà thường chỉ chấp nhận trong giới hạn luật cho phép.
Tính phạt trên toàn bộ giá trị hợp đồng thay vì phần bị vi phạm. Trần được tính trên giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Giao chậm một lô trong năm lô thì cơ sở tính phạt là lô đó, không phải cả hợp đồng. Đây là lỗi tính rất phổ biến trong đơn khởi kiện.
Phạt theo ngày chậm cộng dồn không giới hạn. Điều khoản "mỗi ngày chậm phạt 0,5%" có thể cộng dồn vượt trần. Khi đó toà vẫn chỉ chấp nhận tổng mức phạt trong giới hạn luật.
Đòi phạt khi hợp đồng không có điều khoản phạt. Phạt vi phạm chỉ áp dụng khi các bên có thoả thuận. Không có thoả thuận thì bên bị vi phạm chỉ có thể đòi bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được.
Bỏ qua căn cứ miễn trách nhiệm. Bên vi phạm có thể được miễn trách nhiệm trong các trường hợp luật quy định, như sự kiện bất khả kháng hay hành vi vi phạm hoàn toàn do lỗi của bên kia. Toà xét các căn cứ này trước khi tính phạt.
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại: toà xét khác nhau ra sao
Hai chế tài hay bị gộp làm một trong đơn khởi kiện, nhưng toà xét theo điều kiện riêng của từng chế tài.
| Tiêu chí | Phạt vi phạm | Bồi thường thiệt hại |
|---|---|---|
| Điều kiện phát sinh | Có thoả thuận phạt và có hành vi vi phạm | Có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế, có quan hệ nhân quả |
| Cần chứng minh thiệt hại không | Không cần | Bên yêu cầu phải chứng minh |
| Giới hạn mức | Hợp đồng thương mại có trần theo Luật Thương mại; hợp đồng dân sự theo thoả thuận | Bằng thiệt hại thực tế và khoản lợi trực tiếp lẽ ra được hưởng, nếu chứng minh được |
| Áp dụng cùng lúc | Hợp đồng thương mại: khi các bên có thoả thuận phạt vi phạm; hợp đồng dân sự: khi các bên thoả thuận cả hai | Như cột bên |
| Lỗi hay gặp | Tính trên toàn bộ giá trị hợp đồng | Chỉ nêu con số, không có chứng từ thiệt hại |
Với hợp đồng dân sự, Bộ luật Dân sự 2015 quy định nếu các bên chỉ thoả thuận phạt mà không thoả thuận bồi thường thì bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt. Đây là khác biệt quan trọng với hợp đồng thương mại mà người soạn hợp đồng cần ghi đủ.
Chứng minh thiệt hại: chỗ doanh nghiệp hay thua
Nhiều doanh nghiệp thắng phần phạt vi phạm nhưng thua phần bồi thường, vì chỉ ghi "thiệt hại do mất khách hàng" mà không có chứng từ. Toà đòi thiệt hại phải thực tế, xác định được, và có quan hệ trực tiếp với hành vi vi phạm. Lợi nhuận kỳ vọng không có cơ sở tính toán thường bị bác.
Chứng cứ toà hay chấp nhận gồm: hợp đồng với bên thứ ba bị huỷ kèm khoản phạt đã nộp cho họ, chênh lệch giá khi phải mua hàng thay thế từ nơi khác, chi phí lưu kho, vận chuyển phát sinh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Mỗi khoản cần hoá đơn, chứng từ và một dòng giải thích vì sao nó phát sinh từ vi phạm.
Luật Thương mại còn đặt nghĩa vụ hạn chế tổn thất cho bên yêu cầu bồi thường. Nếu bạn để thiệt hại lớn dần mà không có biện pháp hợp lý, phần thiệt hại lẽ ra hạn chế được có thể bị trừ. Ví dụ giả định: nguyên liệu giao chậm, nhà máy biết từ sớm nhưng không tìm nguồn khác mà để dây chuyền dừng cả tháng; toà có thể chỉ chấp nhận thiệt hại trong khoảng thời gian hợp lý để tìm nguồn thay thế.
Bài học cho người soạn hợp đồng mẫu
Đọc các bản án về phạt vi phạm, người làm pháp chế có thể rút ra một danh sách sửa hợp đồng mẫu khá ổn định.
- Ghi rõ mức phạt theo phần nghĩa vụ bị vi phạm, có trần tổng cộng phù hợp luật áp dụng.
- Nếu muốn vừa phạt vừa bồi thường, ghi rõ điều đó, nhất là với hợp đồng có thể bị coi là dân sự.
- Định nghĩa trước các khoản thiệt hại có thể đòi và chứng từ cần có, để sau này không phải tranh cãi.
- Quy định thủ tục thông báo vi phạm và thời hạn khắc phục trước khi áp dụng phạt.
- Ghi các sự kiện được coi là bất khả kháng và nghĩa vụ thông báo khi xảy ra.
- Tách điều khoản lãi chậm thanh toán khỏi điều khoản phạt, tránh để toà hiểu là phạt hai lần.
Một điều khoản phạt hợp lý, đúng luật thường được toà chấp nhận trọn vẹn. Điều khoản phạt quá tay chỉ cho bên đòi cảm giác an toàn lúc ký, rồi bị cắt khi ra toà.
Hướng dẫn thống nhất về phạt vi phạm đọc ở đâu
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không chỉ nói về lãi mà còn hướng dẫn áp dụng quy định về phạt vi phạm. Khi viết phần yêu cầu phạt, người làm pháp chế nên đọc phần này để biết toà sẽ xác định giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm và mức phạt theo cách nào, thay vì tự suy diễn từ câu chữ của luật.
Ngoài nghị quyết, thực tiễn xét xử về phạt vi phạm nằm rải rác trong rất nhiều bản án kinh doanh thương mại đã công bố. Đọc vài bản án phúc thẩm cùng loại hợp đồng với vụ của bạn, như mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, vận chuyển, sẽ thấy toà thường chỉnh mức phạt ở đâu và vì lý do gì. Về án lệ, bạn lọc trên trang án lệ của Toà án nhân dân tối cao theo lĩnh vực kinh doanh thương mại và từ khoá phạt vi phạm.
Một lưu ý về thời điểm: luật áp dụng là luật có hiệu lực khi hợp đồng được giao kết và khi vi phạm xảy ra, theo quy định chuyển tiếp. Hợp đồng ký trước khi Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, hay hợp đồng chịu luật chuyên ngành đã được sửa, cần kiểm kỹ luật nào điều chỉnh trước khi viện dẫn mức trần hay nguyên tắc phạt kèm bồi thường.
Góc của bên bị đòi phạt
Bên bị kiện đòi phạt vi phạm thường chỉ tập trung phủ nhận hành vi vi phạm, trong khi các bản án cho thấy còn nhiều điểm khác có thể làm giảm đáng kể số tiền. Trước hết là cơ sở tính: bên đòi có tính trên toàn bộ giá trị hợp đồng thay vì phần nghĩa vụ bị vi phạm không. Kế đến là mức trần: hợp đồng thương mại có vượt giới hạn luật cho phép không.
Điểm thứ ba là lỗi của chính bên đòi. Nếu bên mua chậm giao mặt bằng, chậm cung cấp thông số kỹ thuật, chậm thanh toán đợt trước, khiến bên bán không thể giao đúng hạn, thì việc chậm giao có thể không phải lỗi của bên bán. Hồ sơ thư từ, biên bản làm việc trong quá trình thực hiện hợp đồng là chứng cứ quyết định ở điểm này.
Điểm cuối cùng là thủ tục thông báo: nếu hợp đồng quy định phải thông báo vi phạm và cho thời gian khắc phục trước khi áp phạt, việc bên đòi bỏ qua bước này là một lập luận đáng nêu. Ví dụ giả định: hợp đồng cung ứng ghi "bên mua thông báo bằng văn bản và cho bên bán bảy ngày khắc phục", nhưng bên mua chỉ gọi điện rồi tính phạt ngay; bên bán có cơ sở đề nghị toà xem xét lại.
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng mua bán giữa hai công ty ghi phạt 12% thì toà xử ra sao?
Nếu là hợp đồng thương mại chịu Luật Thương mại 2005 và không thuộc trường hợp luật có quy định riêng, phần vượt trần 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm thường không được chấp nhận. Toà thường chấp nhận trong giới hạn luật cho phép thay vì tuyên huỷ cả điều khoản.
Hợp đồng giữa cá nhân với nhau có bị giới hạn 8% không?
Trần 8% là của Luật Thương mại cho hoạt động thương mại. Hợp đồng dân sự giữa cá nhân chịu Bộ luật Dân sự 2015, mức phạt do các bên thoả thuận, trừ khi luật liên quan có quy định khác. Dù vậy, mức phạt quá cao vẫn có thể bị tranh cãi theo các nguyên tắc chung.
Không có điều khoản phạt thì có đòi được tiền phạt không?
Không. Phạt vi phạm chỉ áp dụng khi các bên có thoả thuận trong hợp đồng. Khi không có thoả thuận, bên bị vi phạm chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại và phải tự chứng minh thiệt hại thực tế cùng quan hệ nhân quả.
Đòi bồi thường lợi nhuận bị mất có được không?
Được nếu chứng minh được đó là khoản lợi trực tiếp lẽ ra được hưởng nếu không có vi phạm, với cơ sở tính rõ ràng như hợp đồng với khách hàng bị huỷ. Lợi nhuận ước đoán không có chứng từ thường bị toà bác.
Bên vi phạm viện dẫn bất khả kháng thì bên kia làm gì?
Đề nghị bên vi phạm chứng minh sự kiện là khách quan, không lường trước được và không khắc phục được dù đã áp dụng biện pháp cần thiết, cùng việc đã thông báo kịp thời. Đồng thời đối chiếu điều khoản bất khả kháng trong hợp đồng nếu có.
Nghị quyết nào hướng dẫn về phạt vi phạm?
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm. Bạn đọc nguyên văn và kiểm tình trạng hiện hành, vì luật nền có thể đã được sửa sau khi nghị quyết ban hành.