Không phải nghị quyết nào liên quan tới toà án cũng là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán. Ví dụ hay nhầm nhất: quy định về mức thu, miễn, giảm án phí và lệ phí toà án là nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hiện được biết đến là Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, không phải nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán. Ngoài ra còn nghị quyết của Quốc hội về thi hành bộ luật, thông tư, văn bản liên tịch, quyết định công bố án lệ, công văn giải đáp.
Trích nhầm cơ quan ban hành không chỉ là lỗi hình thức: nó cho thấy người viết chưa tra bản gốc, và làm yếu cả văn bản. Bài này đặt các loại văn bản hay bị nhầm cạnh nhau, chỉ dấu hiệu nhận biết qua ký hiệu, và cách trích cho đúng.
Án phí, lệ phí toà án: văn bản của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Án phí, lệ phí toà án là khoản thu của nhà nước, nên mức thu, miễn, giảm được quy định bằng văn bản của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo thẩm quyền về phí, lệ phí. Văn bản được biết đến rộng rãi là Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Trước khi tính một khoản án phí cho vụ của mình, bạn kiểm văn bản này còn hiệu lực hay đã có văn bản sửa đổi, thay thế.
Ký hiệu UBTVQH trên số hiệu là dấu hiệu phân biệt. Nhiều bài trên mạng ghi "theo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về án phí", đó là nhầm. Hội đồng Thẩm phán không có thẩm quyền đặt mức thu; Bộ luật Tố tụng dân sự và các luật tố tụng quy định nguyên tắc về án phí, còn mức thu cụ thể nằm trong văn bản của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Site này không tính án phí cho vụ cụ thể. Khi cần con số, đọc trực tiếp văn bản hiện hành, xem danh mục mức thu theo loại vụ việc, và hỏi bộ phận tiếp nhận của toà khi nộp đơn, vì toà sẽ ra thông báo nộp tạm ứng án phí theo đúng quy định.
Bảng nhận diện qua ký hiệu
Số hiệu văn bản pháp luật Việt Nam thường có phần ký hiệu cho biết loại văn bản và cơ quan ban hành. Bảng dưới gom các ký hiệu hay gặp quanh hoạt động toà án; luôn kiểm bản gốc, vì ký hiệu là dấu hiệu, không thay cho việc đọc.
| Ký hiệu | Loại văn bản, cơ quan | Ví dụ nội dung |
|---|---|---|
| NQ-HĐTP | Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao | Hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử |
| UBTVQH | Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội | Án phí, lệ phí toà án |
| QH kèm số khoá | Nghị quyết của Quốc hội | Thi hành một bộ luật, quy định chuyển tiếp |
| TT-TANDTC | Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao | Một số vấn đề quản lý, tổ chức hoạt động của toà án |
| TTLT kèm tên các cơ quan | Thông tư liên tịch giữa các cơ quan | Phối hợp hướng dẫn thi hành một luật |
| AL | Án lệ | Giải pháp pháp lý rút từ bản án được công bố |
Quy định về hình thức văn bản, trong đó có thông tư và văn bản liên tịch, thay đổi theo từng thời kỳ của luật ban hành văn bản. Văn bản liên tịch ban hành trước đây có thể vẫn còn hiệu lực; khi gặp, kiểm tình trạng cụ thể.
Nghị quyết của Quốc hội về thi hành bộ luật
Mỗi khi thông qua một bộ luật lớn, Quốc hội thường ban hành kèm một nghị quyết về việc thi hành bộ luật đó: quy định ngày hiệu lực của một số điều, cách xử lý vụ việc đang giải quyết, việc áp dụng cho giao dịch xác lập trước đó. Những nghị quyết này rất quan trọng với vụ việc nằm giữa hai thời kỳ luật, nhưng hay bị gọi nhầm là "nghị quyết hướng dẫn của toà".
Phân biệt: nghị quyết thi hành của Quốc hội trả lời câu hỏi "luật nào áp dụng, từ khi nào"; nghị quyết HĐTP trả lời câu hỏi "áp dụng điều luật này thế nào". Một vụ việc có thể cần cả hai: trước hết dùng nghị quyết thi hành để xác định luật áp dụng, rồi dùng nghị quyết HĐTP hướng dẫn luật đó.
Khi trích, ghi rõ "Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành …" kèm số hiệu bạn đã tra được trên bản gốc. Không ghi chung chung "theo hướng dẫn chuyển tiếp".
Các văn bản khác từ phía toà án hay bị gọi là "nghị quyết"
Quyết định công bố án lệ. Án lệ được công bố bằng quyết định của Chánh án Toà án nhân dân tối cao sau khi Hội đồng Thẩm phán lựa chọn, thông qua. Án lệ có số hiệu riêng dạng số/năm/AL. Gọi án lệ là "nghị quyết" là nhầm loại.
Công văn, văn bản giải đáp nghiệp vụ. Đây là ý kiến hướng dẫn, không phải văn bản quy phạm pháp luật. Ký hiệu thường là số công văn của Toà án nhân dân tối cao. Trích như nghị quyết là nâng sai giá trị của nó.
Báo cáo tổng kết, kết luận hội nghị. Toà án nhân dân tối cao có báo cáo tổng kết công tác hằng năm, trong đó nêu vướng mắc và hướng xử lý. Tài liệu này có giá trị tham khảo, không phải văn bản quy phạm.
Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán. Hội đồng Thẩm phán cũng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Quyết định trong một vụ cụ thể không phải nghị quyết hướng dẫn, dù do cùng một Hội đồng ban hành, trừ khi được chọn làm án lệ.
Nhầm với nghị quyết ngoài hệ thống toà án
Chữ "nghị quyết" còn xuất hiện ở rất nhiều nơi khác: nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách địa phương, nghị quyết của Chính phủ, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên trong doanh nghiệp. Trong một vụ tranh chấp doanh nghiệp, có thể cùng lúc xuất hiện nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, là chứng cứ, và nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, là căn cứ pháp luật. Hai thứ có vai trò hoàn toàn khác.
Trong văn bản gửi toà, tách rõ: phần chứng cứ liệt kê các nghị quyết nội bộ của doanh nghiệp kèm số trang trong hồ sơ; phần căn cứ pháp luật liệt kê luật và văn bản quy phạm. Trộn hai loại vào một danh sách làm người đọc khó theo dõi.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính từ 1/7/2025, nghị quyết của hội đồng nhân dân các tỉnh cũ có tình trạng áp dụng riêng; site khác trong cụm có bài về vấn đề này. Ở đây chỉ cần nhớ chúng không phải văn bản của toà án.
Ví dụ giả định: một bản tự khai trộn bốn loại văn bản
Ví dụ giả định: một công ty nhỏ ở Bắc Ninh là bị đơn trong vụ tranh chấp hợp đồng mua bán. Bản tự khai do nhân viên kế toán soạn ghi: "Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về lãi suất, Nghị quyết số … của đại hội đồng cổ đông, nghị quyết về án phí và hướng dẫn của Toà án tối cao năm …". Bốn loại văn bản khác nhau nằm chung một câu, không loại nào có số hiệu đầy đủ.
Khi biên tập lại, câu này được tách thành ba phần. Phần chứng cứ: nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, kèm vị trí trong hồ sơ. Phần căn cứ pháp luật: điều của luật điều chỉnh hợp đồng mua bán, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về lãi, lãi suất, phạt vi phạm với số hiệu và điều khoản đã tra. Phần án phí: đặt ở đoạn riêng, căn cứ văn bản của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Còn "hướng dẫn của Toà án tối cao năm …" sau khi tra hoá ra là một công văn giải đáp, nên được chuyển xuống thành lập luận bổ trợ, ghi rõ là giải đáp.
Bản tự khai sau khi sửa dài hơn vài dòng, nhưng người đọc biết ngay mỗi thứ đóng vai trò gì.
Kiểm nhanh nguồn trên mạng
Phần lớn nhầm lẫn bắt nguồn từ việc chép lại bài viết trên mạng. Khi đọc một bài nói "theo nghị quyết …", kiểm ba điều: bài có ghi đủ số hiệu và ký hiệu không, bài được viết vào thời điểm nào so với các lần sửa luật, và nội dung bài trích có khớp với bản gốc khi bạn tra lại không.
Bài thiếu số hiệu, hoặc chỉ ghi "theo hướng dẫn mới nhất", nên coi là gợi ý để tra chứ không phải nguồn để trích. Với những bài cũ trước các lần sửa luật lớn, như trước Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Đất đai 2024, hãy giả định là có thể đã lỗi thời cho tới khi kiểm xong.
Nguồn đáng tin nhất vẫn là cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật chính thức, công báo, và trang của Toà án nhân dân tối cao. Các trang tổng hợp văn bản tư nhân tiện tra nhanh, nhưng phần tình trạng hiệu lực đôi khi cập nhật chậm; dùng chúng để tìm số hiệu, rồi kiểm lại ở nguồn chính thức.
Ba bước trước khi ghi một chữ "nghị quyết" vào văn bản
Một thói quen nhỏ giúp tránh phần lớn lỗi nhầm loại văn bản.
- Tra bản gốc và nhìn ký hiệu: NQ-HĐTP, UBTVQH, QH hay ký hiệu khác.
- Đọc dòng cơ quan ban hành và người ký ở đầu và cuối văn bản.
- Ghi đầy đủ trong văn bản của bạn: loại văn bản, cơ quan ban hành, số hiệu, ngày, điều khoản.
Ví dụ giả định: một người tự soạn đơn khởi kiện ghi "căn cứ nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về án phí, đề nghị miễn án phí". Sửa lại đúng là: căn cứ quy định về miễn án phí trong nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án đang có hiệu lực, kèm điều khoản về đối tượng được miễn mà người đó thuộc diện, và tài liệu chứng minh. Câu thứ hai dài hơn nhưng toà đọc là biết ngay cần xét gì.
Nếu vụ việc phức tạp hoặc bạn không chắc mình thuộc diện được miễn, giảm án phí, có thể hỏi bộ phận tiếp nhận đơn của toà hoặc người làm nghề trước khi nộp.
Câu hỏi thường gặp
Án phí do cơ quan nào quy định?
Mức thu, miễn, giảm án phí và lệ phí toà án do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định bằng nghị quyết, văn bản được biết đến là Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Trước khi dùng, kiểm văn bản còn hiệu lực hay đã được sửa đổi, thay thế. Hội đồng Thẩm phán không quy định mức thu án phí.
Ký hiệu UBTVQH và NQ-HĐTP khác nhau thế nào?
UBTVQH là ký hiệu văn bản của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thường trực của Quốc hội. NQ-HĐTP là ký hiệu nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Hai cơ quan khác nhau về vị trí, thẩm quyền và loại vấn đề được quy định.
Thông tư liên tịch có còn được ban hành không?
Quy định về các hình thức văn bản, trong đó có văn bản liên tịch, thay đổi theo từng thời kỳ của luật ban hành văn bản. Các thông tư liên tịch đã ban hành trước đây có thể vẫn còn hiệu lực ở phần chưa bị thay. Gặp văn bản loại này, tra tình trạng cụ thể.
Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có giá trị như nghị quyết không?
Không. Đó là phán quyết trong một vụ việc cụ thể, chỉ ràng buộc các bên trong vụ đó. Nó chỉ có giá trị áp dụng rộng hơn nếu được chọn và công bố làm án lệ.
Trích nhầm cơ quan ban hành có làm đơn bị trả lại không?
Thường không trực tiếp dẫn tới trả đơn, vì căn cứ trả đơn được quy định riêng. Nhưng trích sai làm lập luận yếu đi và tốn thời gian của toà, đôi khi khiến bạn phải sửa đổi, bổ sung đơn. Trích đúng ngay từ đầu vẫn là cách an toàn.