Trong vụ đòi nợ vay giữa cá nhân, toà tách khoản đòi thành ba lớp: tiền gốc, lãi trong hạn theo thoả thuận (không vượt 20%/năm với hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015), và lãi phát sinh do chậm trả; mỗi lớp có cách tính riêng. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, nên là văn bản bạn cần đọc cùng Bộ luật Dân sự khi tự tính.
Bài này giúp bạn đọc nghị quyết đó theo đúng việc mình cần: biết toà sẽ hỏi gì, tính khoản nào trước, mốc thời gian nào quyết định luật áp dụng. Các con số tỷ lệ trong bài lấy từ Bộ luật Dân sự 2015; bạn vẫn nên đối chiếu nguyên văn văn bản hiện hành, vì hướng dẫn có thể được sửa, bổ sung sau thời điểm bạn đọc.
Vì sao lãi cần một nghị quyết hướng dẫn riêng
Lãi là phần gây tranh cãi nhiều nhất trong án đòi nợ, vì một khoản vay có thể kéo dài qua nhiều thời kỳ luật khác nhau. Bộ luật Dân sự 2005 giới hạn lãi suất theo tỷ lệ so với lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố; Bộ luật Dân sự 2015, có hiệu lực từ 1/1/2017, chuyển sang trần cố định 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác quy định khác. Hợp đồng ký năm 2015, trả chậm tới 2020 thì lãi giai đoạn nào tính theo luật nào là câu hỏi mà điều luật không tự trả lời hết.
Ngoài chuyện chuyển tiếp, mỗi toà từng tính lãi chậm trả, lãi trên lãi, lãi sau khi xử theo cách hơi khác nhau. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ra đời để thống nhất cách hiểu: xác định lãi suất trong hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tín dụng, lãi suất chậm trả, phạt vi phạm, xử lý hợp đồng xác lập trước và sau ngày Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực.
Vì là văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết này ràng buộc toà các cấp. Đương sự hiểu nó thì biết trước con số toà có thể chấp nhận, tránh đòi dư rồi bị bác, hoặc đòi thiếu mà toà không tự cộng thêm cho mình.
Các khoản lãi trong một vụ đòi nợ vay có lãi
Bảng tóm theo Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, áp dụng cho hợp đồng vay giữa cá nhân xác lập từ 1/1/2017. Hợp đồng tín dụng của ngân hàng theo luật chuyên ngành, không đọc theo bảng này.
| Khoản | Khi nào phát sinh | Mức theo Bộ luật Dân sự 2015 | Ghi chú khi tính |
|---|---|---|---|
| Lãi trong hạn | Từ ngày nhận tiền tới hạn trả | Theo thoả thuận, không vượt 20%/năm | Phần vượt trần không có hiệu lực |
| Lãi trong hạn chưa trả, bị chậm | Đến hạn mà lãi chưa trả | Lãi chậm trả theo mức 10%/năm trên số lãi chậm trả | Mức 10%/năm là 50% trần theo khoản 2 Điều 468 |
| Lãi trên nợ gốc quá hạn | Từ khi quá hạn trả gốc mà chưa trả | 150% lãi suất vay theo hợp đồng, trừ thoả thuận khác | Tính theo thời gian chậm trả |
| Vay không lãi mà chậm trả | Đến hạn không trả hoặc trả không đủ | 10%/năm trên số tiền chậm trả, trừ thoả thuận khác | Không biến khoản vay thành có lãi từ đầu |
| Có thoả thuận trả lãi nhưng không rõ mức | Khi tranh chấp | 50% trần, tức 10%/năm tại thời điểm trả nợ | Hay gặp với giấy vay ghi “có lãi” mà không ghi bao nhiêu |
Đọc bảng xong, nhiều người cộng hết các dòng lại. Không đúng như vậy: mỗi khoản có khoảng thời gian và số tiền làm cơ sở riêng, và một số khoản thay thế nhau chứ không cộng dồn. Đây chính là chỗ nghị quyết hướng dẫn giúp tránh tính chồng.
Mốc thời gian quyết định luật áp dụng
Với hợp đồng vay xác lập trước 1/1/2017 nhưng tranh chấp sau ngày đó, câu hỏi đầu tiên toà đặt ra là hợp đồng đã thực hiện xong hay chưa, và nội dung có phù hợp Bộ luật Dân sự 2015 hay không. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP có các quy định hướng dẫn riêng cho nhóm hợp đồng chuyển tiếp này, phân biệt theo thời điểm xác lập và thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả lãi.
Hệ quả thực tế: hai khoản vay cùng số tiền, cùng lãi suất ghi trên giấy, nhưng một khoản ký năm 2016 và một khoản ký năm 2018, có thể bị toà tính lãi khác nhau. Khi tự lập bảng tính, bạn chia khoảng thời gian theo các mốc luật thay đổi, mỗi khoảng áp mức tương ứng, thay vì dùng một tỷ lệ cho cả thời kỳ.
Vì phần chuyển tiếp khá kỹ thuật, bạn nên mở nguyên văn nghị quyết và đọc đúng điều khoản về hợp đồng xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực. Đừng dựa vào tóm tắt trên mạng cho phần này, vì đây là chỗ tóm tắt hay lược mất điều kiện.
Lãi vượt trần: toà xử phần vượt thế nào
Phần vượt không có hiệu lực. Điều 468 quy định rõ trường hợp lãi suất thoả thuận vượt quá giới hạn thì mức vượt quá không có hiệu lực. Toà không tuyên cả hợp đồng vay vô hiệu chỉ vì lãi cao; khoản vay gốc vẫn phải trả.
Tiền lãi vượt đã trả không mất trắng. Thực tiễn xét xử phổ biến là đối trừ khoản lãi đã trả vượt mức vào nghĩa vụ còn lại, trong đó có tiền gốc. Cách đối trừ cụ thể, thời điểm đối trừ cần đối chiếu nguyên văn hướng dẫn hiện hành và các bản án đã công bố cùng loại.
Bên vay phải chứng minh đã trả lãi. Lãi cao thường được trả bằng tiền mặt, không giấy tờ. Muốn toà đối trừ, bên vay cần biên nhận, sao kê, tin nhắn xác nhận, sổ ghi chép có chữ ký hoặc lời thừa nhận của bên cho vay.
Ranh giới với trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự có tội cho vay lãi nặng khi lãi suất gấp năm lần trở lên mức cao nhất theo Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính ở mức luật định. Đó là câu chuyện khác với tranh chấp dân sự; bài này không đi sâu, chỉ nhắc để bạn biết lãi rất cao có thể kéo theo hệ quả ngoài tiền bạc.
Lãi trong hợp đồng tín dụng khác vay giữa cá nhân ở đâu
Hợp đồng tín dụng với tổ chức tín dụng chịu Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước, nên trần 20%/năm của Bộ luật Dân sự không áp dụng theo cách giống hệt. Lãi suất có thể điều chỉnh theo kỳ, phạt lãi quá hạn theo quy định chuyên ngành.
Có án lệ về tình huống tranh chấp hợp đồng tín dụng, giải quyết việc sau khi xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức thoả thuận trong hợp đồng cho tới khi trả xong nợ gốc. Án lệ này thường được dẫn khi bản án tuyên nghĩa vụ trả nợ ngân hàng; bạn tra trang án lệ của Toà án nhân dân tối cao theo từ khoá “hợp đồng tín dụng” để đọc nguyên văn và kiểm tình trạng.
Với vay giữa cá nhân, phần lãi sau khi bản án có hiệu lực được xử lý theo quy định về lãi chậm thi hành án, không phải theo lãi suất trên giấy vay. Bạn kiểm phần quyết định của bản án để biết toà tuyên tính lãi tiếp theo căn cứ nào, vì đây là chỗ hai loại vụ hay bị đánh đồng.
Những lỗi tính lãi hay khiến yêu cầu bị bác một phần
Đọc các bản án đã công bố về đòi nợ vay, phần bị bác thường không nằm ở tiền gốc mà ở cách tính lãi. Những lỗi dưới lặp lại rất nhiều lần:
- Tính lãi trên lãi theo đúng mức thoả thuận, tức lãi kép, trong khi luật chỉ cho tính lãi chậm trả trên số lãi chưa trả theo mức thấp hơn.
- Áp mức 150% lãi suất vay cho cả khoảng thời gian trước khi đến hạn trả gốc.
- Cộng đồng thời lãi trong hạn theo hợp đồng và lãi quá hạn cho cùng một khoảng thời gian trên cùng số tiền.
- Dùng lãi suất thoả thuận vượt trần rồi chỉ “giảm bớt” theo cảm tính, thay vì cắt đúng về mức luật cho phép.
- Không trừ các khoản bên vay đã trả, hoặc trừ mà không ghi rõ đã trừ vào gốc hay vào lãi.
- Quên rằng hợp đồng ký trước 2017 có quy tắc chuyển tiếp, dùng một tỷ lệ cho toàn bộ thời gian.
- Tính lãi tới ngày nộp đơn rồi dừng, trong khi có thể đề nghị tính tới ngày xét xử.
Mỗi lỗi kể trên đều có hệ quả về án phí: phần yêu cầu không được chấp nhận, người yêu cầu thường phải chịu án phí tương ứng. Tính đúng ngay từ đầu vừa giúp thắng phần chính, vừa tiết kiệm chi phí theo đúng nghĩa đen.
Tự lập bảng tính lãi trước khi nộp đơn hoặc đi hoà giải
Một bảng tính rõ ràng giúp cả hai bên thương lượng trên cùng một con số, và giúp toà thấy yêu cầu của bạn có căn cứ.
- Ghi số tiền gốc thực nhận, ngày nhận, theo từng lần nếu giải ngân nhiều lần.
- Ghi lãi suất thoả thuận; nếu vượt 20%/năm với hợp đồng từ 2017, ghi song song mức trần.
- Chia mốc: từ ngày nhận tới ngày đến hạn; từ ngày đến hạn tới ngày dự kiến xét xử.
- Tính lãi trong hạn theo mức thoả thuận đã cắt về trần.
- Tính riêng lãi trên nợ gốc quá hạn và lãi chậm trả trên số lãi chưa trả, không gộp.
- Liệt kê các khoản đã trả, ghi rõ trả gốc hay trả lãi theo chứng cứ, đối trừ phần lãi đã trả vượt.
- Ra tổng gốc còn lại, tổng lãi còn lại, và ghi căn cứ cho từng dòng.
Nếu con số cuối cùng chênh lớn với số bên kia đưa ra, bảng này cho biết chênh ở dòng nào: thường là do một bên tính lãi trên lãi, hoặc bỏ qua khoản đã trả.
Câu hỏi thường gặp
Giấy vay không ghi lãi nhưng bên cho vay nói có thoả thuận miệng thì toà tính thế nào?
Bên cho vay phải chứng minh có thoả thuận trả lãi, bằng tin nhắn, ghi âm, biên nhận trả lãi các kỳ trước. Không chứng minh được thì khoản vay được coi là không lãi; nếu bên vay chậm trả, bên cho vay chỉ được đòi lãi chậm trả theo mức luật định trên số tiền chậm trả.
Lãi tính theo tháng như “3 nghìn đồng một triệu một ngày” có vượt trần không?
Muốn biết, quy đổi về lãi suất năm. Ví dụ giả định trên tương đương khoảng 0,3% mỗi ngày, nhân lên một năm vượt rất xa mức 20%/năm. Toà sẽ cắt phần vượt; nếu mức quá cao còn phải xem xét dấu hiệu cho vay lãi nặng theo luật hình sự.
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP có áp dụng cho phạt vi phạm không?
Có. Tên nghị quyết gồm lãi, lãi suất và phạt vi phạm, nên nó hướng dẫn cả việc xác định phạt vi phạm trong hợp đồng. Phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại còn theo Luật Thương mại, nên cần đọc cả hai.
Đã khởi kiện rồi thì lãi có tiếp tục chạy không?
Có, lãi vẫn phát sinh trong thời gian giải quyết vụ án theo thoả thuận và quy định của luật; toà tính tới thời điểm xét xử. Vì vậy trong đơn khởi kiện bạn ghi yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử, kèm cách tính, thay vì chỉ ghi một con số cố định tại ngày nộp đơn.
Toà có tự tính thêm lãi nếu đương sự không yêu cầu không?
Toà giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Nếu bạn chỉ đòi gốc, toà thường không tự cộng lãi cho bạn. Ngược lại, yêu cầu lãi vượt mức luật cho phép sẽ bị bác phần vượt, và bạn có thể phải chịu án phí trên phần không được chấp nhận.
Hợp đồng vay giữa hai công ty có theo trần 20%/năm không?
Vay giữa các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng thường vẫn chịu Bộ luật Dân sự về lãi suất, trừ khi luật chuyên ngành quy định khác. Trường hợp này nên kiểm kỹ văn bản hiện hành và hỏi người làm nghề, vì còn liên quan chi phí lãi vay được trừ khi tính thuế, thuộc lĩnh vực khác.