Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán là văn bản quy phạm pháp luật, toà phải áp dụng; án lệ là giải pháp pháp lý rút từ một bản án cụ thể, toà phải nghiên cứu và áp dụng khi tình huống tương tự, không áp dụng thì phải nêu lý do; còn giải đáp nghiệp vụ là ý kiến hướng dẫn nội bộ, có giá trị tham khảo, không phải văn bản quy phạm pháp luật. Ba loại cùng xuất phát từ Toà án nhân dân tối cao nên rất hay bị đánh đồng.
Đánh đồng gây hai lỗi: đẩy một giải đáp nghiệp vụ lên như luật, hoặc xem nhẹ một nghị quyết như "ý kiến tham khảo". Bài này đặt ba loại cạnh nhau theo các tiêu chí người đang có vụ việc cần biết: ai làm ra, căn cứ vào đâu, ràng buộc ai, trích thế nào, và khi luật đổi thì số phận ra sao.
Bảng so sánh nhanh ba loại
Bảng dưới đây gom các khác biệt chính. Chi tiết từng tiêu chí được giải thích ở các mục sau.
| Tiêu chí | Nghị quyết HĐTP | Án lệ | Giải đáp nghiệp vụ |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Văn bản quy phạm pháp luật | Lập luận, phán quyết trong bản án được chọn và công bố | Ý kiến hướng dẫn chuyên môn |
| Hình thức | Văn bản có điều khoản | Tình huống và giải pháp pháp lý rút từ bản án | Công văn hoặc văn bản giải đáp theo câu hỏi |
| Ai quyết định | Hội đồng Thẩm phán biểu quyết | Hội đồng Thẩm phán lựa chọn, Chánh án công bố | Toà án nhân dân tối cao tổng hợp, giải đáp |
| Toà có buộc phải theo | Có | Phải nghiên cứu, áp dụng khi tương tự; không áp dụng phải nêu lý do | Không bắt buộc, có giá trị tham khảo |
| Đương sự trích được không | Được, như căn cứ pháp luật | Được, kèm phân tích tình huống tương tự | Được, nhưng chỉ như lập luận bổ trợ |
| Khi luật nền đổi | Có thể hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần | Có thể bị thay thế, bãi bỏ | Thường không còn phù hợp, ít khi có thông báo riêng |
Đọc bảng theo chiều dọc để hiểu một loại, theo chiều ngang để thấy vì sao không thể nói chung "toà tối cao đã hướng dẫn rồi". Khi viết gửi toà, nói rõ mình đang dựa vào loại nào.
Nghị quyết HĐTP: quy tắc chung, viết thành điều khoản
Nghị quyết HĐTP được viết như một văn bản pháp luật: có căn cứ ban hành, phạm vi điều chỉnh, các điều hướng dẫn, điều khoản thi hành. Nó trả lời câu hỏi chung "điều luật này áp dụng thế nào" cho mọi vụ việc thuộc phạm vi, chứ không gắn với một vụ cụ thể nào. Đó là lý do nó mang tính quy phạm: áp chung, lặp lại, có hiệu lực từ một ngày xác định.
Vì là văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết HĐTP phải theo trình tự ban hành do Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định, được công bố công khai, đăng tải chính thức. Khi trích vào văn bản gửi toà, bạn trích như trích luật: số hiệu, ngày ban hành, điều, khoản. Toà áp dụng sai nghị quyết là sai về áp dụng pháp luật, có thể là căn cứ kháng cáo, kháng nghị.
Giới hạn của nó: nghị quyết không thể đi ngược luật. Nếu một luật mới ban hành quy định khác, nghị quyết cũ vênh với luật mới không còn được áp dụng ở phần vênh. Nghị quyết cũng chỉ trả lời những câu đã được hỏi; tình huống nằm ngoài phạm vi thì không thể "suy rộng" nghị quyết như luật mới.
Án lệ: lời giải cho một tình huống, lấy từ bản án thật
Án lệ không được viết thành điều khoản. Nó là một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực, trong đó có lập luận giải quyết một vấn đề pháp lý còn nhiều cách hiểu, được Hội đồng Thẩm phán chọn và Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố. Phần có giá trị là "tình huống án lệ" và "giải pháp pháp lý", không phải toàn bộ lời kể sự việc.
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép toà áp dụng án lệ, và quy trình lựa chọn, công bố, áp dụng án lệ do nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán quy định, hiện là Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP (đối chiếu xem đã có văn bản thay thế chưa). Theo cơ chế này, toà phải nghiên cứu, áp dụng án lệ khi tình huống tương tự; nếu không áp dụng, bản án phải nêu lý do. Đây là mức ràng buộc khác với nghị quyết: không phải "luôn theo", mà là "theo khi tương tự, không theo thì giải thích".
Vì vậy khi viện dẫn án lệ, việc khó nhất là chứng minh vụ của bạn tương tự. Các trang khác trên site đã đi sâu cách đọc án lệ và cách viện dẫn; ở đây chỉ cần thấy khác biệt căn bản: nghị quyết áp theo phạm vi, án lệ áp theo mức giống của tình tiết.
Giải đáp nghiệp vụ: câu trả lời cho câu hỏi của các toà
Trong quá trình xét xử, các toà gặp vướng mắc và gửi câu hỏi lên. Toà án nhân dân tối cao tổng hợp, trả lời bằng văn bản giải đáp nghiệp vụ hoặc công văn hướng dẫn. Những văn bản này rất có ích vì phản ánh cách nghĩ của cấp cao nhất, nhưng không phải văn bản quy phạm pháp luật, không qua trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Hệ quả thực tế: toà cấp dưới thường vận dụng giải đáp để thống nhất cách làm, nhưng về mặt pháp lý, bản án không thể lấy giải đáp làm căn cứ thay cho luật. Đương sự có thể nêu một giải đáp để củng cố lập luận, ví dụ "cách hiểu này phù hợp với hướng giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề …", nhưng căn cứ chính vẫn phải là điều luật hoặc nghị quyết.
Giải đáp cũng là loại dễ lỗi thời nhất. Một giải đáp trả lời theo luật cũ thường không có thông báo chính thức "hết hiệu lực" như văn bản quy phạm, nên bạn phải tự kiểm luật nền còn như lúc giải đáp hay không. Không bao giờ trích nội dung giải đáp qua lời kể; hãy tìm bản gốc.
Khi ba loại cùng nói về một vấn đề
Nghị quyết và án lệ cùng nói. Hai loại thường bổ sung cho nhau: nghị quyết đặt quy tắc chung, án lệ cho thấy quy tắc áp vào một tình huống cụ thể. Nếu có vẻ vênh nhau, kiểm thời điểm: cái nào ban hành sau, luật nền lúc đó là gì, và án lệ có còn được áp dụng không.
Nghị quyết và giải đáp vênh nhau. Nghị quyết là văn bản quy phạm, giải đáp không phải. Về nguyên tắc nghị quyết còn hiệu lực thì được ưu tiên. Thực tế giải đáp thường ra sau để xử lý chỗ nghị quyết chưa nói tới; đọc kỹ xem có thật sự mâu thuẫn hay chỉ bổ sung.
Chỉ có giải đáp, không có nghị quyết. Bạn dựa vào điều luật làm căn cứ, dùng giải đáp để thuyết phục rằng cách hiểu của mình hợp lý. Đừng viết như thể giải đáp là luật.
Không có gì cả. Khi đó tìm bản án đã công bố có tình huống gần giống. Bản án thường không ràng buộc, nhưng cho thấy các toà đang nghĩ thế nào.
Quy trình kiểm một "hướng dẫn của toà tối cao" mà bạn nghe được
Rất nhiều lời khuyên bắt đầu bằng "toà tối cao đã hướng dẫn là …". Trước khi tin và dùng, đi qua các bước sau.
- Hỏi lại nguồn: đó là nghị quyết, án lệ, giải đáp, hay chỉ là một bản án của một toà nào đó.
- Tìm bản gốc trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật chính thức hoặc trang của Toà án nhân dân tối cao; ghi số hiệu, ngày ban hành.
- Đọc phạm vi: hướng dẫn đó nói về tình huống nào, có đúng tình huống của bạn không.
- Kiểm tình trạng: văn bản còn hiệu lực, đã sửa đổi, hay đã bị thay; án lệ còn được áp dụng hay đã bị bãi bỏ.
- Kiểm luật nền: điều luật được hướng dẫn còn nguyên hay đã đổi theo luật mới.
- Ghi lại trích dẫn đúng loại: "theo Nghị quyết …", "tương tự giải pháp pháp lý của Án lệ …", "phù hợp hướng giải đáp …".
Sáu bước này mất chừng nửa giờ nhưng tránh được lỗi trích sai, loại lỗi làm bên kia và toà nghi ngờ cả những lập luận đúng khác trong văn bản của bạn.
Người soạn hợp đồng nên đọc loại nào trước
Với pháp chế doanh nghiệp và người soạn hợp đồng, nghị quyết HĐTP là nơi đầu tiên cần đọc vì nó nói toà sẽ tính toán thế nào: lãi, phạt, thời điểm, điều kiện. Một điều khoản phạt hay lãi chậm trả viết lệch với cách tính trong nghị quyết là điều khoản dễ bị toà điều chỉnh khi có tranh chấp.
Án lệ đọc tiếp theo, để biết toà xử những tình huống dở dang ra sao: đặt cọc mà không ký hợp đồng chính, ký thay mà không đủ thẩm quyền, hợp đồng vô hiệu một phần. Giải đáp nghiệp vụ đọc sau cùng, để biết những vùng còn mờ mà toà đang dần thống nhất. Cả ba loại đều chỉ cho bạn biết rủi ro; còn soạn điều khoản cho giao dịch lớn, nên có người làm nghề đọc lại toàn bộ.
Một cách làm gọn cho phòng pháp chế là lập bảng theo dõi ba cột: nghị quyết đang dùng làm căn cứ cho các mẫu hợp đồng, án lệ liên quan tới các điều khoản hay tranh chấp, và những giải đáp đáng chú ý. Mỗi khi có luật mới hoặc nghị quyết mới, rà lại bảng một lượt và đánh dấu mẫu hợp đồng nào cần sửa. Ví dụ giả định: một công ty phân phối dùng chung một điều khoản lãi chậm thanh toán cho mọi đại lý; khi rà bảng thấy căn cứ tính lãi trong mẫu đã lệch với hướng dẫn hiện hành, chỉ cần sửa mẫu một lần thay vì để từng hợp đồng ra toà mới phát hiện.
Câu hỏi thường gặp
Án lệ có phải là văn bản quy phạm pháp luật không?
Không. Án lệ là lập luận, phán quyết trong một bản án đã có hiệu lực được lựa chọn và công bố. Toà phải nghiên cứu, áp dụng khi tình huống tương tự và nêu lý do nếu không áp dụng, nhưng án lệ không được ban hành dưới dạng văn bản có điều khoản như nghị quyết.
Giải đáp nghiệp vụ có được ghi làm căn cứ trong bản án không?
Giải đáp nghiệp vụ không phải văn bản quy phạm pháp luật nên không thay được điều luật làm căn cứ pháp lý của bản án. Các toà thường vận dụng nó để thống nhất cách hiểu, còn căn cứ ghi trong bản án vẫn là luật và văn bản quy phạm còn hiệu lực.
Nếu án lệ và nghị quyết HĐTP nói khác nhau thì toà theo cái nào?
Trước hết kiểm thời điểm ban hành, luật nền tại thời điểm đó và tình trạng hiện hành của từng văn bản. Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật; án lệ áp dụng theo mức tương tự của tình huống. Trường hợp vênh thật hiếm và thường là do luật đã đổi, nên cần người làm nghề phân tích cụ thể.
Bản án của toà tỉnh khác có giá trị như án lệ không?
Không. Bản án thông thường đã công bố chỉ cho thấy cách một toà đã xử, không ràng buộc toà khác. Bạn có thể nêu để minh hoạ, nhưng nên nói rõ đó không phải án lệ và giải thích vì sao lập luận trong đó hợp lý.
Có cần thuộc số hiệu các nghị quyết không?
Không cần. Quan trọng là biết mảng nào đã có hướng dẫn để tra đúng chỗ khi gặp vụ việc, rồi đọc bản gốc và kiểm hiệu lực. Thuộc số hiệu mà không kiểm hiệu lực còn nguy hiểm hơn, vì dễ trích văn bản đã bị thay.