ToiCao.comTối Cao
Án lệ dân sự và hợp đồng

Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự: toà đòi chứng minh những gì

Vi phạm, thiệt hại thực tế, quan hệ nhân quả: ba thứ toà soi trước khi buộc bồi thường do vi phạm hợp đồng, và vì sao nhiều yêu cầu bị bác vì thiếu chứng cứ.

Interior of a small furniture workshop in Binh Duong area of Ho Chi Minh City, unfinished wooden cabinets stacked, a worker seen from behind sanding, dusty afternoon light

Để được bồi thường do bên kia vi phạm hợp đồng, bạn phải chứng minh ba điều: có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có thiệt hại thực tế, và thiệt hại đó do chính hành vi vi phạm gây ra; bên vi phạm chỉ thoát trách nhiệm khi chứng minh được bất khả kháng hoặc thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên có quyền, trừ khi có thoả thuận hoặc luật quy định khác. Trong thực tiễn xét xử, phần lớn yêu cầu bồi thường bị bác không phải vì bên kia không vi phạm, mà vì người yêu cầu không chứng minh được con số thiệt hại.

Bài này đọc các quy định chính của Bộ luật Dân sự 2015 về bồi thường do vi phạm hợp đồng theo cách toà áp dụng: thiệt hại nào được tính, chứng cứ nào được chấp nhận, nghĩa vụ hạn chế thiệt hại ảnh hưởng thế nào, và quan hệ giữa bồi thường với phạt vi phạm. Tranh chấp giữa thương nhân còn chịu Luật Thương mại; bài chỉ nhắc khi cần phân biệt.

Điều 360 và Điều 419: hai điều luật cần đọc cùng nhau

Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 đặt nguyên tắc: trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác. Điều 419 cụ thể hoá cho hợp đồng: thiệt hại được bồi thường gồm tổn thất về vật chất, cả lợi ích mà lẽ ra người có quyền được hưởng do hợp đồng mang lại, chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ mà không trùng lặp với mức bồi thường cho lợi ích của hợp đồng; theo yêu cầu, toà có thể buộc bồi thường cả tổn thất về tinh thần.

Đọc hai điều này, nhiều người nghĩ cứ nêu thiệt hại là được đền. Thực tế, chữ “thiệt hại thực tế” và “lẽ ra được hưởng” đều phải được chứng minh bằng chứng cứ có thể kiểm. Toà không ước đoán thiệt hại thay đương sự; thiếu chứng cứ thì phần yêu cầu đó bị bác, dù hội đồng xét xử có thể tin rằng thiệt hại là có thật.

Ngoài ra Điều 351 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ quy định bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được do sự kiện bất khả kháng, hoặc hoàn toàn do lỗi của bên có quyền, trừ thoả thuận hoặc luật khác. Đây là lối thoát mà bên bị kiện hay viện dẫn.

Loại thiệt hại và chứng cứ toà thường đòi

Bảng dưới tổng hợp từ cách các bản án đã công bố đánh giá yêu cầu bồi thường trong tranh chấp hợp đồng dân sự. Đây là mức chứng cứ phổ biến, không phải danh sách bắt buộc.

Loại thiệt hạiVí dụ giả địnhChứng cứ thường được chấp nhậnLý do hay bị bác
Tài sản bị mất, hư hỏngThợ làm hỏng tủ bếp mới lắpBiên bản hiện trạng, ảnh có thời gian, hoá đơn mua, kết quả giám địnhKhông có biên bản ghi nhận lúc phát sinh
Chi phí khắc phục, thuê người khác làm tiếpThuê đội thợ khác hoàn thiện công trình bị bỏ dởHợp đồng với bên thay thế, hoá đơn, chứng từ thanh toánGiá thuê bên thay thế cao bất thường so với giá thị trường
Lợi ích lẽ ra được hưởngCửa hàng mở muộn hai tháng vì bên kia giao mặt bằng chậmSổ sách doanh thu các kỳ trước, hợp đồng với khách đã bị huỷChỉ là ước tính doanh thu kỳ vọng, không có cơ sở so sánh
Chi phí phát sinhTiền thuê kho tạm vì hàng giao chậmHợp đồng thuê, hoá đơn, chứng từChi phí không liên quan trực tiếp tới vi phạm
Tổn thất tinh thầnDịch vụ cưới hỏng nặng làm hỏng ngày cướiTình tiết cụ thể chứng minh mức độ ảnh hưởngMức yêu cầu không có căn cứ, toà thường xem xét thận trọng

Cột cuối là bài học thực tế: thiếu ghi nhận tại thời điểm phát sinh, hoặc con số chỉ dựa trên kỳ vọng, là hai lý do lớn nhất khiến yêu cầu bồi thường bị giảm mạnh hoặc bị bác.

Lợi ích lẽ ra được hưởng: phần khó chứng minh nhất

Lợi ích lẽ ra được hưởng, nôm na là khoản lời bị mất, thường có giá trị lớn hơn thiệt hại trực tiếp, nên được yêu cầu nhiều. Nhưng đây cũng là phần toà xem xét chặt nhất, vì bản chất nó là giả định về điều sẽ xảy ra nếu không có vi phạm.

Hướng đánh giá phổ biến là đòi hỏi cơ sở khách quan: số liệu kinh doanh các kỳ trước của chính người yêu cầu, hợp đồng cụ thể với khách hàng đã bị mất, giá thị trường tại thời điểm. Một bảng tính dự kiến lợi nhuận tự lập, không dựa trên dữ liệu đã có, gần như không có trọng lượng.

Toà cũng xem xét quan hệ nhân quả: khoản lời bị mất có phải là hệ quả trực tiếp của vi phạm không, hay còn do nhiều yếu tố khác như thị trường, cách kinh doanh của chính người yêu cầu. Chuỗi nhân quả càng dài, yêu cầu càng khó được chấp nhận trọn vẹn. Vì vậy người soạn hợp đồng nên ghi rõ mục đích sử dụng và hậu quả nếu chậm, thậm chí thoả thuận trước mức bồi thường cho từng loại vi phạm, để sau này có căn cứ.

Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại và lỗi của bên bị thiệt hại

Phải hạn chế thiệt hại. Điều 362 Bộ luật Dân sự đặt nghĩa vụ cho bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình. Ví dụ giả định: bên giao hàng chậm, bạn biết trước nhưng không tìm nguồn thay thế dù có thể, để thiệt hại phình to; phần thiệt hại lẽ ra tránh được có thể không được bồi thường.

Lỗi của bên có quyền. Điều 363 quy định khi bên có quyền cũng có lỗi gây ra thiệt hại, bên vi phạm chỉ bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Toà xem ai làm gì, vào lúc nào, để chia phần.

Thông báo kịp thời. Bên bị vi phạm nên thông báo bằng văn bản ngay khi phát hiện, yêu cầu khắc phục, cho thời hạn hợp lý. Thông báo vừa là chứng cứ vi phạm, vừa cho thấy mình đã hành xử thận trọng.

Không tự ý mở rộng thiệt hại. Thuê bên thay thế với giá cao hơn nhiều mức thị trường, hoặc kéo dài thời gian thuê tạm không cần thiết, có thể khiến toà chỉ chấp nhận ở mức hợp lý.

Phạt vi phạm và bồi thường: cộng hay chọn

Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự, các bên có thể thoả thuận bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường, hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại. Nếu các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thoả thuận về việc vừa phạt vừa bồi thường, bên vi phạm chỉ phải nộp phạt vi phạm. Mức phạt do các bên thoả thuận, trừ luật liên quan có quy định khác.

Đây là điểm khác quan trọng với hợp đồng thương mại, nơi Luật Thương mại có quy định riêng về trần phạt vi phạm và quan hệ giữa phạt với bồi thường. Dẫn quy định thương mại vào hợp đồng dân sự giữa cá nhân, hoặc ngược lại, là lỗi thường gặp trong đơn khởi kiện. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán cũng có phần hướng dẫn về phạt vi phạm; bạn đọc nguyên văn phần đó khi tính.

Trong vụ thực tế, câu hỏi đầu tiên toà kiểm là hợp đồng ghi gì về phạt và bồi thường. Nếu chỉ có điều khoản phạt, yêu cầu bồi thường thêm có nguy cơ bị bác dù thiệt hại thật lớn hơn tiền phạt.

Bên bị kiện thường phản bác thế nào

Đọc yêu cầu bồi thường từ phía bên bị kiện giúp bạn chuẩn bị trước những điểm sẽ bị tấn công. Các hướng phản bác hay gặp trong bản án đã công bố:

  • Không có vi phạm: nghĩa vụ chưa đến hạn, hoặc chất lượng giao đúng như hợp đồng mô tả, chỉ khác kỳ vọng của bên kia.
  • Vi phạm có nhưng do bên kia vi phạm trước, như chậm thanh toán đợt trước, chậm bàn giao mặt bằng thi công.
  • Bất khả kháng: sự kiện khách quan, không lường trước được, không khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết.
  • Không có thiệt hại thực tế, hoặc con số thiệt hại không có chứng cứ, chỉ là ước tính.
  • Thiệt hại không do vi phạm gây ra mà do nguyên nhân khác, như thời tiết, cách sử dụng của bên kia.
  • Bên kia không hạn chế thiệt hại, để thiệt hại tăng lên.
  • Hợp đồng chỉ thoả thuận phạt vi phạm, không thoả thuận vừa phạt vừa bồi thường.

Bên yêu cầu bồi thường nên tự rà từng dòng trên trước khi nộp đơn và chuẩn bị chứng cứ đáp lại. Một yêu cầu đã lường trước phản bác thường đi qua phiên hoà giải dễ hơn nhiều.

Chuẩn bị yêu cầu bồi thường để không bị bác vì thiếu chứng cứ

Trình tự dưới đây giúp biến một nỗi bực mình thành một yêu cầu toà có thể chấp nhận.

  1. Xác định chính xác nghĩa vụ bị vi phạm: điều khoản nào, thời hạn nào, chất lượng nào.
  2. Ghi nhận vi phạm ngay khi phát hiện: biên bản, ảnh, video có thời gian, thông báo bằng văn bản cho bên kia.
  3. Liệt kê từng loại thiệt hại riêng, mỗi loại một dòng, không gộp thành một con số tròn.
  4. Gắn chứng cứ cho từng dòng: hoá đơn, hợp đồng thay thế, sổ sách doanh thu kỳ trước.
  5. Kiểm hợp đồng về phạt vi phạm và bồi thường để biết được đòi cả hai hay chỉ một.
  6. Trừ phần thiệt hại do chính mình có lỗi hoặc không hạn chế khi có thể.
  7. Tra bản án đã công bố về tranh chấp cùng loại để xem toà chấp nhận mức nào.

Một yêu cầu bồi thường được chia dòng rõ ràng còn giúp hoà giải dễ hơn: bên kia có thể chấp nhận vài dòng có chứng cứ mạnh và chỉ tranh luận phần còn lại.

Câu hỏi thường gặp

Bên kia vi phạm nhưng mình chưa bị thiệt hại gì thì có đòi bồi thường được không?

Bồi thường đòi hỏi thiệt hại thực tế. Không có thiệt hại thì không có gì để bồi thường; bạn có thể đòi phạt vi phạm nếu hợp đồng có thoả thuận phạt, hoặc yêu cầu bên kia tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng.

Toà có tự giảm mức bồi thường khi thấy bên vi phạm khó khăn không?

Trong bồi thường do vi phạm hợp đồng, nguyên tắc là bồi thường toàn bộ thiệt hại chứng minh được. Hoàn cảnh kinh tế của bên vi phạm thường không phải căn cứ giảm như trong bồi thường ngoài hợp đồng. Hai bên vẫn có thể thoả thuận giảm, trả dần trong hoà giải.

Thoả thuận giới hạn mức bồi thường tối đa trong hợp đồng có được toà tôn trọng không?

Điều 360 cho phép thoả thuận khác về bồi thường, nên điều khoản giới hạn thường được xem xét. Tuy vậy, toà vẫn xem điều khoản có trái nguyên tắc thiện chí, có phải điều khoản mẫu bất lợi cho bên yếu thế, hoặc có trường hợp cố ý vi phạm hay không.

Đòi bồi thường tổn thất tinh thần trong hợp đồng có phổ biến không?

Bộ luật Dân sự 2015 cho phép toà buộc bồi thường tổn thất tinh thần theo yêu cầu. Trong thực tiễn, yêu cầu này được chấp nhận chủ yếu khi hợp đồng gắn với lợi ích tinh thần rõ ràng, như dịch vụ cưới, tang lễ, du lịch; mức chấp nhận thường thận trọng.

Có cần giám định thiệt hại không hay chỉ cần hoá đơn?

Với thiệt hại về chất lượng tài sản, công trình, giám định thường là chứng cứ mạnh nhất, nhất là khi hai bên tranh cãi nguyên nhân. Hoá đơn chứng minh chi phí, còn giám định chứng minh nguyên nhân và mức độ. Nên yêu cầu giám định sớm, trước khi hiện trạng bị thay đổi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.